Khung Quản trị Công ty nên khuyến khích cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và Doanh nghiệp Nhà nước đưa ra quyết định, quản trị rủi ro theo cách đóng góp vào sự phát triển bền vững, khả năng chống chịu của Doanh nghiệp Nhà nước, đảm bảo giá trị lâu dài. Nếu chính phủ đặt mục tiêu về phát triển bền vững, với tư cách là chủ sở hữu, chính phủ cần đề ra kỳ vọng rõ ràng và tham vọng về phát triển bền vững đối với Doanh nghiệp Nhà nước, bao gồm vai trò Hội đồng Quản trị, công bố thông tin – tính minh bạch, cũng như yêu cầu về kinh doanh có trách nhiệm. Chính sách sở hữu cần thừa nhận đầy đủ trách nhiệm Doanh nghiệp Nhà nước với các bên liên quan.
Hiện nay, cả chính phủ và khu vực doanh nghiệp đều đang thể hiện cam kết rõ ràng hơn đối với phát triển bền vững và thực hiện kinh doanh có trách nhiệm. Gần đây, những cuộc khủng hoảng đã cho thấy tầm quan trọng của việc nhận diện rủi ro mới nổi, tận dụng cơ hội nhằm tăng sức chống chịu trước những cú sốc bất ngờ, thông qua chính sách, chiến lược, thực hành bền vững. Một số nước vì thế ưu tiên cao vấn đề bền vững, cam kết chuyển đổi sang nền kinh tế bền vững, ít phát thải/không phát thải carbon, phù hợp với Hiệp định Paris và Các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Điều này đòi hỏi các công ty, kể cả Doanh nghiệp Nhà nước, phản ứng với môi trường pháp lý – kinh doanh thay đổi nhanh, quản lý tốt rủi ro, nắm bắt cơ hội liên quan lộ trình chuyển đổi. Với tư cách chủ sở hữu, nhà nước có trách nhiệm và lợi ích bảo đảm Doanh nghiệp Nhà nước thích ứng được bối cảnh, sẵn sàng trước khủng hoảng, khuyến khích Doanh nghiệp Nhà nước ra quyết định, quản lý rủi ro – cơ hội nhằm tăng tính bền vững, khả năng chống chịu, giá trị lâu dài. Bên cạnh kỳ vọng từ nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước cũng có thể tự đặt mục tiêu hay thông lệ tốt nhằm đáp ứng đòi hỏi từ cổ đông không phải nhà nước, thị trường, và các bên liên quan.
Doanh nghiệp Nhà nước thường giữ vai trò trung tâm trong nhiều nền kinh tế, nhưng có vẻ dễ tổn thương trước rủi ro liên quan đến phát triển bền vững. Cụ thể, do tính chất/phân bổ lĩnh vực và cơ cấu quản trị, bao gồm tập trung nhiều trong các ngành khó giảm phát thải, hoạt động Doanh nghiệp Nhà nước thường chiếm tỉ lệ đáng kể khí thải nhà kính toàn cầu và đối diện rủi ro cao về môi trường, nhân quyền, tham nhũng. Doanh nghiệp Nhà nước cũng chịu rủi ro lớn trước biến đổi khí hậu (cả rủi ro vật lý lẫn chuyển đổi), ví dụ “khóa chặt carbon”, do họ thường là nhà cung cấp hạ tầng quy mô lớn hoặc doanh nghiệp carbon cao. Rủi ro này có thể chuyển sang nhà nước theo hình thức cổ tức thấp hoặc biến động mạnh, nợ không trả nổi (nếu có bảo lãnh), hoặc thiệt hại do tài sản carbon trở nên vô giá trị khi chuyển đổi rủi ro. Việc này sẽ cản trở nỗ lực hoàn thành cam kết bền vững – đặc biệt về khí hậu và ảnh hưởng tới hiệu quả dài hạn của Doanh nghiệp Nhà nước, hiệu quả thực hiện chính sách công, tác động thẳng tới ngân sách nhà nước cũng như người dân, doanh nghiệp phụ thuộc vào hàng hóa, dịch vụ của Doanh nghiệp Nhà nước.
Trong điều kiện và động lực phù hợp, Doanh nghiệp Nhà nước (kể cả ngân hàng, định chế tài chính công) cũng có thể đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy phát triển bền vững, hỗ trợ quá trình chuyển đổi công bằng, gồm cả cung cấp, tài trợ giải pháp ít carbon.
Trên thực tế, nhiều chính phủ nhận thấy Doanh nghiệp Nhà nước có thể – và nên – làm gương. Điều này xuất phát từ giả định chung rằng nhà nước sở hữu Doanh nghiệp Nhà nước vì lợi ích công chúng nói chung, những người là cổ đông cuối cùng của các Doanh nghiệp Nhà nước. Phù hợp với Khuyến nghị của OECD về vai trò của chính phủ trong thúc đẩy ứng xử kinh doanh có trách nhiệm [OECD/LEGAL/0486], chính phủ nên nêu gương, thực thi nguyên tắc kinh doanh có trách nhiệm khi thực hiện các hoạt động thương mại. Doanh nghiệp Nhà nước vì thế phải tuân theo chuẩn mực ứng xử kinh doanh có trách nhiệm, giải quyết, tránh hoặc giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, xã hội. Đôi khi, nhà nước cũng quyết định đưa mục tiêu Môi trường – Xã hội vào Doanh nghiệp Nhà nước để hỗ trợ chương trình phát triển bền vững quốc gia, nhất là lĩnh vực năng lượng, việc làm, giao thông. Nếu mục tiêu này cấu thành nghĩa vụ dịch vụ công, cần luật hoặc quy định xác định rõ, đồng thời đảm bảo minh bạch về chi phí, cơ chế tài trợ, nhằm đảm bảo sân chơi bình đẳng.
Với tư cách chủ sở hữu, chính phủ nên khuyến khích, thúc đẩy Doanh nghiệp Nhà nước thực hành kinh doanh bền vững – có trách nhiệm, tạo giá trị lâu dài, thông qua phát triển chính sách liên quan đến bền vững, tích hợp thực hành kinh doanh bền vững, có trách nhiệm vào khung quản trị Doanh nghiệp Nhà nước, kể cả chính sách và cách thức sở hữu. Theo đó, chính phủ nên coi việc gắn kết bên liên quan là nhiệm vụ cốt lõi cấp công ty cho Doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện đối thoại với các bên liên quan về chính sách sở hữu, trao đổi ý kiến về vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường liên quan.
VII.A. Nếu nhà nước đặt mục tiêu về phát triển bền vững, mục tiêu đó phải được tích hợp toàn diện vào chính sách và thực tiễn sở hữu nhà nước.
Nhằm đảm bảo gắn kết chính sách, chính sách sở hữu và cách thức nhà nước áp dụng nên phù hợp với mục tiêu quốc gia rộng hơn về phát triển bền vững, kể cả cam kết quốc tế. Cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước cũng có thể (tự nguyện) tích hợp mục tiêu về phát triển bền vững vào kỳ vọng chủ sở hữu dành cho Doanh nghiệp Nhà nước, như một phần vai trò sở hữu chủ động.
Việc này gồm xây dựng chiến lược tổng thể (kế hoạch hành động chi tiết, lộ trình rõ ràng), giúp Doanh nghiệp Nhà nước triển khai đầu tư, hạ tầng, công nghệ phù hợp mục tiêu kinh tế bền vững, chống chịu. Chiến lược nên bao gồm kế hoạch đầu tư, cơ cấu vốn, phân bổ ngân sách nhằm tối ưu nguồn lực theo hướng bền vững, tối đa hóa lợi ích dài hạn cho cổ đông, xã hội. Một phần, nhà nước có thể khuyến khích đối tác công – tư, mời Doanh nghiệp Nhà nước phát triển đổi mới bền vững, kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng… Trường hợp chính phủ ban hành mục tiêu về phát triển bền vững cho Doanh nghiệp Nhà nước sở hữu toàn bộ, có thể khuyến khích Doanh nghiệp Nhà nước lập kế hoạch chuyển đổi khí hậu, tham gia nỗ lực giảm phát thải carbon, bảo vệ tự nhiên, tài nguyên nước… Ngoài ra, chính phủ (với tư cách cổ đông) cần tính đến mục tiêu về phát triển bền vững trong chiến lược đầu tư dài hạn, cân nhắc rủi ro ở cấp danh mục liên quan đến phát triển bền vững (mất cổ tức, gánh nợ tương lai, tài sản carbon vô giá trị…); những đánh giá rủi ro này nên chia sẻ với Doanh nghiệp Nhà nước, Hội đồng Quản trị để cân nhắc.
Chính phủ có thể nhìn nhận tiềm năng của Doanh nghiệp Nhà nước trong việc thúc đẩy nghị trình bền vững, như cung cấp giải pháp ít carbon, nghiên cứu phát triển công nghệ bền vững… Thêm vào đó, các ngân hàng hoặc định chế tài chính công có thể lồng ghép yếu tố bền vững vào hoạt động cho vay, đầu tư. Tuy vậy, cần duy trì sân chơi bình đẳng, tránh méo mó cạnh tranh chỉ vì lý do bền vững.
Bởi tính chất liên ngành, chính sách và chiến lược bền vững nên được xây dựng ở cấp độ chính phủ, trong việc phối hợp với các cơ quan liên quan, tham vấn bên liên quan. Sự phối hợp hiệu quả giúp giảm xung đột lợi ích hoặc can thiệp chính trị ở Doanh nghiệp Nhà nước, bảo đảm tách biệt chức năng sở hữu khỏi vai trò quản lý kinh tế hoặc lập chính sách công.
Điều này gồm:
VII.A.1. Đặt mục tiêu cụ thể, tham vọng về phát triển bền vững cho Doanh nghiệp Nhà nước, phù hợp chính sách và thực tiễn sở hữu. Tôn trọng quyền, đối xử công bằng với mọi cổ đông.
Chính phủ, với vai trò chủ sở hữu chủ động, cần xác định và truyền đạt kỳ vọng tham vọng để Doanh nghiệp Nhà nước nâng cao phát triển bền vững, khả năng chống chịu, gia tăng giá trị dài hạn. Kỳ vọng cấp cao này cần được nêu trong chính sách sở hữu nhà nước hoặc văn bản liên quan, nhất quán với mục tiêu về phát triển bền vững quốc gia, cam kết quốc tế (nếu có). Bao gồm nhưng không giới hạn: kỳ vọng về công bố, minh bạch; vai trò, trách nhiệm của Hội đồng Quản trị; tuân thủ chuẩn mực kinh doanh có trách nhiệm, tương tác bên liên quan. Chính phủ cũng có thể yêu cầu Doanh nghiệp Nhà nước thành lập ủy ban bền vững hoặc bảo đảm Hội đồng Quản trị sở hữu những năng lực, kinh nghiệm liên quan tới bền vững, đặc biệt là với Doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, rủi ro cao.
Dù chính phủ định ra mục tiêu hay xây dựng khung pháp lý, Doanh nghiệp Nhà nước vẫn có trách nhiệm hoàn thiện mục tiêu, triển khai chính sách phát triển bền vững. Kỳ vọng của chính phủ không nên là mức trần cho nỗ lực bền vững, mà cần để dư địa cho Doanh nghiệp Nhà nước dẫn đầu.
Trường hợp nhà nước không sở hữu hoàn toàn, việc chia sẻ kỳ vọng về phát triển bền vững nên thực hiện công khai qua chính sách sở hữu, các cuộc họp cổ đông, sử dụng quyền cổ đông, tôn trọng lợi ích của các cổ đông khác. Mặc dù kỳ vọng có thể khác nhau giữa Doanh nghiệp Nhà nước là cổ đông toàn phần, cổ đông đa số hoặc cổ đông thiểu số, việc nêu rõ và minh bạch kỳ vọng là bước quan trọng giúp lồng ghép mục tiêu về phát triển bền vững vào hoạt động, quyết định của từng Doanh nghiệp Nhà nước. Nếu thiếu khuôn khổ rõ ràng, Doanh nghiệp Nhà nước có thể có động lực để né tránh tuân thủ.
Kỳ vọng cấp cao nên được áp dụng cho toàn bộ danh mục Doanh nghiệp Nhà nước, gồm cả nội dung chung và chi tiết cho từng ngành khi cần. Tùy theo cơ chế sở hữu, chính phủ có thể đặt mục tiêu về phát triển bền vững rõ ràng thông qua quy định ngành, thư kỳ vọng, đối thoại hoặc nhiệm vụ riêng cho Doanh nghiệp Nhà nước. Trong quá trình này, chính phủ vẫn cần tránh can thiệp quá mức hoặc quá thụ động với công tác quản lý Doanh nghiệp Nhà nước, để doanh nghiệp có quyền tự chủ vận hành nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
Nếu các yêu cầu phát triển bền vững mới dẫn đến sự thay đổi căn bản về sứ mệnh của Doanh nghiệp Nhà nước hoặc giao thêm nghĩa vụ tương đương với dịch vụ công, cần phải quy định rõ, công khai với công chúng. Đồng thời các chi phí ròng của các nghĩa vụ đó cần phải được đảm bảo theo cách thức minh bạch.
VII.A.2. Truyền đạt, làm rõ kỳ vọng về phát triển bền vững của chính phủ thông qua đối thoại thường xuyên với Hội đồng Quản trị.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu cần thực hiện theo dõi kỳ vọng tầm cao, kết nối với Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Nhà nước (và cổ đông khác nếu có), đảm bảo hiểu nhau và quản lý tốt các đánh đổi tiềm ẩn. Quá trình đối thoại có thể qua nhiều vòng trao đổi với cổ đông, hỗ trợ Doanh nghiệp Nhà nước biến kỳ vọng về phát triển bền vững thành chiến lược, mục tiêu rõ ràng.
Theo đó, cơ quan đại diện chủ sở hữu nên thiết lập cơ chế tiếp xúc đều đặn với Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Nhà nước, trao đổi về rủi ro, cơ hội, kỳ vọng về phát triển bền vững, chiến lược… Trường hợp doanh nghiệp có cổ đông ngoài nhà nước, chính phủ phải truyền đạt – hoặc làm rõ kỳ vọng bằng cách thực thi quyền cổ đông tại đại hội cổ đông hay Hội đồng Quản trị, tôn trọng quyền của các cổ đông khác.
VII.A.3. Đánh giá, giám sát, báo cáo định kỳ về mức độ Doanh nghiệp Nhà nước đáp ứng kỳ vọng về phát triển bền vững, hiệu quả hoạt động trong lĩnh vực này.
Chính phủ cần giám sát việc triển khai kỳ vọng về phát triển bền vững tại Doanh nghiệp Nhà nước. Điều này đòi hỏi lồng ghép các nội dung bền vững vào hệ thống báo cáo hiện có, để thường xuyên đánh giá, giám sát hiệu quả Doanh nghiệp Nhà nước, kiểm tra sự tuân thủ của họ đối với các kỳ vọng và quy tắc cao hơn. Nhà nước cần nêu rõ yêu cầu báo cáo cho Doanh nghiệp Nhà nước, đồng thời công khai kỳ vọng về phát triển bền vững, kết quả đạt được với công chúng, kể cả trong báo cáo tổng hợp hằng năm.
Việc rà soát hiệu quả thường xuyên sẽ cho phép cơ quan đại diện chủ sở hữu hiểu rõ hơn các vấn đề bền vững trong danh mục và ở từng Doanh nghiệp Nhà nước, cũng như đặt mục tiêu mới một cách có căn cứ. Ngoài ra, chính phủ có thể đánh giá hiệu suất danh mục tổng thể và khả năng đóng góp vào việc tạo giá trị dài hạn. Để hỗ trợ phân tích, chính phủ có thể đo lường mức độ rủi ro bền vững tại danh mục và/hoặc so sánh hiệu suất bền vững giữa Doanh nghiệp Nhà nước, hoặc so với doanh nghiệp cùng ngành. Điều này giúp chính phủ đánh giá và ưu tiên hóa rủi ro và cơ hội phát triển bền vững, đưa ra kỳ vọng tốt hơn.
VII.B. Chính phủ nên yêu cầu Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Nhà nước xem xét đầy đủ những rủi ro, cơ hội về phát triển bền vững khi thực thi chức năng chủ chốt.
Dù nhà nước có vai trò quan trọng trong thiết lập định hướng chung, chính Doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm đảm bảo kỳ vọng nhà nước được lồng ghép hiệu quả vào chiến lược, hoạt động. Dù không có kỳ vọng chính thức về phát triển bền vững, Doanh nghiệp Nhà nước nên chủ động đáp ứng xu thế toàn cầu, thực hành tốt vì lợi ích dài hạn. Doanh nghiệp Nhà nước nên cập nhật, học hỏi thông lệ tốt, ví dụ qua đào tạo liên tục, trao đổi với nhân viên và các bên liên quan.
Nhà nước phải bảo đảm Hội đồng Quản trị tự chủ vận hành đạt mục tiêu chiến lược, kể cả mục tiêu về phát triển bền vững, giao trách nhiệm cuối cùng về kết quả cho Hội đồng Quản trị, kèm cơ chế giám sát phù hợp. Hội đồng Quản trị cần tự xây dựng chính sách bền vững gắn với chiến lược công ty; nếu cần, xác định và báo cáo bộ chỉ số, mục tiêu về phát triển bền vững chiến lược để đo lường hiệu quả.
Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Nhà nước cũng đảm bảo có hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ hiệu quả, phù hợp khung quản lý rủi ro (kể cả quy trình thẩm định), nhằm nhận diện, xử lý rủi ro tài chính, vận hành, cũng như rủi ro nhân quyền, lao động, môi trường, thuế. Để xây dựng chiến lược (bền vững), Doanh nghiệp Nhà nước cũng cần quan tâm rủi ro liên quan chính hoạt động của mình, sản phẩm, dịch vụ hoặc chuỗi cung ứng, gồm công ty con…
Các điều kiện tiên quyết thiết yếu để quản trị bền vững hiệu quả ở cấp doanh nghiệp:
VII.B.1. Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Nhà nước nên rà soát, định hướng việc xây dựng, triển khai, công bố các mục tiêu, chỉ tiêu quan trọng liên quan đến phát triển bền vững, lồng ghép vào chiến lược tổng thể.
Hội đồng Quản trị cần tích hợp đầy đủ kỳ vọng và mục tiêu cổ đông liên quan đến phát triển bền vững vào chiến lược kinh doanh, từ đó phát triển chỉ tiêu, chỉ số cụ thể. Các kế hoạch/chiến lược bền vững phải gắn chặt, nhất quán với chiến lược chung của công ty, đồng thời tuân thủ yêu cầu luật, quy định (kể cả yêu cầu báo cáo), cân nhắc lợi ích bên liên quan (có cả người lao động), bên cạnh lợi ích doanh nghiệp và cổ đông. Những kế hoạch bền vững hiệu quả có thể giúp hiện thực hóa kỳ vọng về phát triển bền vững thành cải tiến thực tế, tránh nguy cơ “đánh bóng hình ảnh môi trường” hoặc “đánh bóng hình ảnh xã hội”.
Mục tiêu, chỉ tiêu bền vững nên dựa trên bộ số liệu nhất quán, có thể so sánh, độ tin cậy cao, phù hợp kỳ vọng cổ đông, cũng như yêu cầu pháp lý, hợp đồng, quy định áp dụng. Đây là cách bảo đảm thông tin có tính tin cậy cho người dùng, gồm nhà đầu tư, bên liên quan như người lao động. Nên công bố thường xuyên để cổ đông, nhà đầu tư, bên liên quan đánh giá tính khả tín của mục tiêu và tiến độ thực hiện. Việc công bố có thể gồm xác định chỉ tiêu trung hạn khi đặt mục tiêu dài hạn, hằng năm báo cáo chỉ số bền vững nhất quán, và nêu hành động khắc phục nếu doanh nghiệp chưa đạt mục tiêu.
VII.B.2. Doanh nghiệp Nhà nước nên tích hợp yếu tố bền vững vào hệ thống quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ, bao gồm thẩm định dựa trên rủi ro.
Việc nhận diện và giảm thiểu rủi ro, bao gồm cả rủi ro bền vững, là trách nhiệm cốt lõi của Hội đồng Quản trị, đóng vai trò quan trọng cho thành công dài hạn.
Hệ thống quản lý rủi ro của Doanh nghiệp Nhà nước cần xử lý rủi ro quan trọng từ bên ngoài có liên quan (ví dụ: khủng hoảng y tế). Đồng thời, phải có thẩm định dựa trên rủi ro nhằm xác định, phòng ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực (hiện tại hoặc tiềm tàng) của hoạt động, và thông tin cách xử lý theo Hướng dẫn của OECD về doanh nghiệp đa quốc gia về ứng xử kinh doanh có trách nhiệm, áp dụng cho Doanh nghiệp Nhà nước. Thẩm định hiệu quả cần gắn với nỗ lực lồng ghép nguyên tắc kinh doanh có trách nhiệm vào chính sách, hệ thống quản lý.
Thẩm định dựa trên rủi ro sẽ giúp Doanh nghiệp Nhà nước không dừng lại ở việc nhận diện và quản lý rủi ro ảnh hưởng tới chính doanh nghiệp, mà còn xem xét rủi ro tác động xấu (hiện tại/tiềm tàng) tới nhân quyền, lao động (ví dụ: lao động trẻ em, lao động cưỡng bức), môi trường (biến đổi khí hậu, ô nhiễm, mất đa dạng sinh học). Ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động này góp phần tối đa hóa những giá trị dài hạn cho xã hội, cải thiện quan hệ với các bên liên quan, bảo vệ uy tín công ty. Doanh nghiệp Nhà nước cũng có thể tiến hành thẩm định để tuân thủ luật áp dụng, ví dụ về lao động, môi trường, Quản trị Công ty, hình sự hoặc chống hối lộ.
Sự tham gia ngày càng tăng của Doanh nghiệp Nhà nước trên thị trường toàn cầu làm dấy lên những quan ngại về rủi ro xã hội, môi trường trong chuỗi cung ứng xuyên biên giới. Do đó, Doanh nghiệp Nhà nước cần lưu ý nhiều động thái pháp luật, quy định hiện đang thảo luận ở các nước, nhất là về thẩm định nhân quyền – môi trường trong chuỗi cung ứng.
VII.B.3. Hội đồng Quản trị Doanh nghiệp Nhà nước nên cân nhắc yếu tố bền vững khi đánh giá, giám sát hiệu quả Ban Điều hành.
Trong các chức năng của Hội đồng Quản trị, cần đảm bảo việc đánh giá, kiểm soát hiệu quả Ban Điều hành, nhất là cách họ theo đuổi mục tiêu chiến lược, gồm cả mục tiêu về phát triển bền vững. Hội đồng Quản trị nên xác nhận bộ máy quản lý có năng lực phù hợp để nắm bắt, quản lý rủi ro và cơ hội bền vững, định hướng công ty theo chiến lược gia tăng giá trị, đặc biệt khi rủi ro/cơ hội bền vững có thể ảnh hưởng trọng yếu.
Một số Hội đồng Quản trị có thể khuyến khích thêm lãnh đạo chủ chốt làm việc vì lợi ích dài hạn cổ đông, thông qua chèn tiêu chí bền vững vào cơ chế thù lao. Khi đó, Hội đồng Quản trị cần tuân thủ thông lệ về thù lao và khuyến khích nêu ở phần “VI.B”.
Cân bằng lợi ích cổ đông với mục tiêu về phát triển bền vững dài hạn đôi khi phức tạp, vì mục tiêu về phát triển bền vững rất khó đo lường, dữ liệu thường không rõ ràng hoặc thiếu tin cậy. Việc áp dụng nguyên tắc “quy tắc phán đoán hợp lý trong kinh doanh” hoặc các quy tắc tương tự có thể khuyến khích Hội đồng Quản trị tính đến yếu tố bền vững, bằng cách bảo vệ Thành viên Hội đồng Quản trị, Ban Điều hành khỏi kiện tụng nếu họ ra quyết định kinh doanh một cách cẩn trọng, dựa trên thông tin, không xung đột lợi ích.
VII.C. Nhà nước cần kỳ vọng Doanh nghiệp Nhà nước phải yêu cầu báo cáo, công bố thông tin về phát triển bền vững một cách phù hợp, dựa trên các số liệu nhất quán, có thể so sánh và đáng tin cậy:
Quy định, chuẩn mực báo cáo – công bố cho Doanh nghiệp Nhà nước về quản trị, chiến lược, quản lý rủi ro, kết quả phi tài chính (kể cả thông tin, chỉ số bền vững, như phát thải khí nhà kính, tỉ lệ đàm phán tập thể…) ngày càng quan trọng với cổ đông, nhà đầu tư, người lao động, các bên liên quan, công chúng. Đây cũng là yếu tố then chốt để tăng cường trách nhiệm Hội đồng Quản trị, Ban Điều hành Doanh nghiệp Nhà nước trong mảng phát triển bền vững, giúp nhà nước hoạt động như chủ sở hữu thông hiểu, có cái nhìn rõ hơn về hiệu suất Doanh nghiệp Nhà nước.
Nhà nước cần trông đợi Doanh nghiệp Nhà nước tham gia báo cáo phi tài chính để thể hiện cách họ giải quyết kỳ vọng về phát triển bền vững, qua đó tạo giá trị cho nhà nước, cổ đông, công dân. Doanh nghiệp Nhà nước nên được yêu cầu báo cáo, công bố thông tin chi tiết, chính xác, đầy đủ về chính sách, hoạt động, rủi ro, mục tiêu về phát triển bền vững, kèm chỉ số hiệu suất, kịp thời, dễ tiếp cận, phù hợp chuẩn quốc tế chất lượng cao. Dựa trên khái niệm “tính quan trọng” (materiality) đã đề cập trong “Hướng dẫn V.A”, thông tin có thể bao trùm các vấn đề môi trường – xã hội – quản trị (ESG), tuân thủ luật về nhân quyền, sức khỏe, an toàn, đa dạng, bảo vệ người tiêu dùng, chống tham nhũng, thực hành kinh doanh bền vững. Khung báo cáo khu vực, quốc gia vẫn có thể linh hoạt bổ sung yêu cầu địa phương, nếu phù hợp chuẩn quốc tế.
Ngoài ra, khi thích hợp, Doanh nghiệp Nhà nước cần cung cấp thông tin về các vấn đề quan trọng cho người lao động, bên liên quan tác động lớn đến hiệu quả doanh nghiệp hoặc gây ảnh hưởng đáng kể. Việc công bố có thể gồm quan hệ quản lý/người lao động, thông tin thù lao, phạm vi thương lượng tập thể, cơ chế đại diện nhân viên, quan hệ với chủ nợ, nhà cung cấp, người tiêu dùng, cộng đồng bị ảnh hưởng, quan tâm đặc biệt đến nhóm dễ tổn thương.
Nhiều quốc gia yêu cầu hoặc khuyến nghị Doanh nghiệp Nhà nước công bố thông tin liên quan nguồn nhân lực. Các chính sách nhân sự như phát triển, đào tạo, tỉ lệ giữ chân, hay chương trình ESOP giúp thị trường và các bên liên quan hiểu rõ thế mạnh cạnh tranh.
VII.C.1. Báo cáo và công bố thông tin liên quan đến phát triển bền vững cần phù hợp với các chuẩn mực quốc tế chất lượng cao, được công nhận rộng rãi, nhằm bảo đảm tính nhất quán và khả năng so sánh giữa các thị trường, quốc gia và doanh nghiệp.
Dù nhận thức “một khuôn mẫu chung” có hạn chế, cơ quan đại diện chủ sở hữu có thể lựa chọn hài hòa hoặc chuẩn hóa các tiêu chí báo cáo – chỉ số hiệu suất để nhất quán, tin cậy, so sánh các công ty, thị trường. Quy định báo cáo có thể đặt ra bộ chỉ tiêu tối thiểu theo khung sẵn có hoặc yêu cầu Doanh nghiệp Nhà nước áp dụng chuẩn mực quốc tế được công nhận, bảo đảm chất lượng thông tin, giảm chênh lệch thực hành báo cáo. Về phía nhà nước, bắt kịp chuẩn mực quốc tế đang biến đổi là cần thiết, gồm Bộ nguyên tắc Quản trị Công ty của G20/OECD, Hướng dẫn của OECD về doanh nghiệp đa quốc gia, Nguyên tắc hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về kinh doanh và nhân quyền, Sáng kiến toàn cầu và Chương trình nghị sự 2030 (SDGs). Nên khuyến khích sử dụng các chỉ số khoa học, nhất là khi liên quan đến kế hoạch chuyển đổi (ví dụ: giảm phát thải, đa dạng sinh học). Việc này giúp chủ sở hữu so sánh thông tin bền vững giữa Doanh nghiệp Nhà nước và các doanh nghiệp khác.
Nhiều quốc gia khuyến nghị hoặc yêu cầu chuẩn “tính quan trọng” từ quan điểm của nhà đầu tư, thậm chí có quốc gia còn áp dụng “tính quan trọng kép” (double materiality). Thông tin cần công bố kịp thời, bao gồm cả dữ liệu quá khứ và các thông tin trọng yếu mang tính dự báo, phù hợp với các chuẩn mực báo cáo được quốc tế công nhận.
Doanh nghiệp Nhà nước cần bảo đảm tính nhất quán giữa báo cáo bền vững, báo cáo tài chính và thông tin công ty khác. Chính phủ cũng nên chỉ rõ Doanh nghiệp Nhà nước nên công bố thông tin bền vững ở đâu (báo cáo thường niên tích hợp hay tách riêng), kèm mong đợi rõ ràng về thời gian công bố, cách tiếp cận. Nếu khả thi, nên ủng hộ báo cáo tích hợp, giúp minh họa sự gắn kết giữa chiến lược công ty và cam kết phát triển bền vững.
VII.C.2. Cân nhắc giai đoạn áp dụng yêu cầu chứng thực đảm bảo thường niên bởi đơn vị cung cấp dịch vụ chứng nhận độc lập, có năng lực, theo chuẩn quốc tế chất lượng cao.
Việc kiểm chứng độc lập báo cáo bền vững sẽ gia tăng niềm tin vào tính chính xác, chất lượng dữ liệu, qua đó củng cố trách nhiệm giải trình của Doanh nghiệp Nhà nước lẫn chính phủ trước công chúng. Đối với doanh nghiệp, dịch vụ kiểm chứng sẽ giúp giảm thiểu chi phí, rủi ro pháp lý liên quan đến báo cáo phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu cổ đông, các bên liên quan (kể cả người lao động), giảm rủi ro kiện tụng. Về phía chính phủ, bảo đảm này sẽ hỗ trợ vai trò chủ sở hữu chủ động, nâng cao độ tin cậy, chất lượng báo cáo bền vững, đánh giá rủi ro – cơ hội bền vững chính xác hơn ở danh mục.
Tùy theo quy mô, điều kiện vận hành, nhà nước nên đặt kỳ vọng các Doanh nghiệp Nhà nước sẽ thực hiện đánh giá độc lập đối với các báo cáo bền vững của mình – ở mức đánh giá có giới hạn hoặc đánh giá đầy đủ – do một tổ chức đánh giá độc lập và có đủ năng lực thực hiện, dựa trên các phương pháp đánh giá chặt chẽ nhằm đảm bảo độ chính xác và chất lượng của báo cáo bền vững. Kiểm chứng nên tập trung vào năng lực bền vững thay vì chỉ dừng ở báo cáo, mặc dù vẫn cần đảm bảo tính tuân thủ. Trường hợp không thể kiểm chứng toàn bộ thông tin bền vững hoặc quá tốn kém, nên cân nhắc áp dụng yêu cầu tối thiểu đối với chỉ số bền vững quan trọng (ví dụ: phát thải khí nhà kính). Hội đồng Quản trị cũng có thể tìm đến kiểm toán nội bộ để khẳng định về thông tin bền vững, nhằm củng cố niềm tin vào tính trung thực của báo cáo.
Tuy vậy, về lâu dài, nên hướng tới mức độ kiểm chứng đồng nhất giữa báo cáo tài chính và báo cáo phát triển bền vững, trong đó có sự nhất quán về thời gian báo cáo.
VII.D. Với vai trò là chủ sở hữu, nhà nước cần đặt ra các kỳ vọng cao đối với việc tuân thủ các chuẩn mực về hành vi kinh doanh có trách nhiệm (RBC)của Doanh nghiệp Nhà nước cùng với các cơ chế hiệu quả để thực hiện các tiêu chuẩn đó. Nhà nước cần thừa nhận đầy đủ trách nhiệm của các Doanh nghiệp Nhà nước đối với các bên liên quan và yêu cầu các Doanh nghiệp Nhà nước báo cáo về mối quan hệ của họ với các bên liên quan. Các kỳ vọng của nhà nước cần được công bố một cách rõ ràng và minh bạch.
Doanh nghiệp Nhà nước chịu tác động bởi môi trường pháp luật, quy định đang phát triển về ứng xử kinh doanh có trách nhiệm. Nhiều doanh nghiệp đã chứng minh rằng tôn trọng chuẩn mực ứng xử kinh doanh là yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh. Giống doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp Nhà nước cũng có lợi ích thương mại trong việc giảm rủi ro uy tín, được nhìn nhận là “công dân doanh nghiệp tốt”. Hơn nữa, RBC ngày càng được coi là yếu tố cốt lõi để xây dựng nền kinh tế bền vững, chống chịu, thúc đẩy quan hệ hài hòa giữa kinh doanh với các thành phần xã hội, hướng tới tạo giá trị lâu dài.
Do đó, Doanh nghiệp Nhà nước nên tuân thủ tiêu chuẩn RBC ở mọi hoạt động, chuỗi cung ứng, gồm nhân quyền, lao động và quan hệ công nghiệp, môi trường, chống tham nhũng, quyền lợi người tiêu dùng, khoa học – công nghệ – đổi mới, cạnh tranh, thuế. Hành động nên dựa trên công cụ quốc tế thích hợp, trong đó có Hướng dẫn của OECD về doanh nghiệp đa quốc gia về ứng xử kinh doanh có trách nhiệm, được triển khai tối đa khả năng; Tuyên bố ILO về nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động; Tuyên bố ILO ba bên về nguyên tắc liên quan đến doanh nghiệp đa quốc gia và chính sách xã hội; và Nguyên tắc hướng dẫn Liên Hợp Quốc về kinh doanh và nhân quyền.
Nhân tố quan trọng trong Quản trị Công ty, cũng là trọng tâm của ứng xử kinh doanh có trách nhiệm và một phần của quy trình thẩm định, là gắn kết các bên liên quan. Chính phủ (Cơ quan đại diện chủ sở hữu) và Doanh nghiệp Nhà nước cần hiểu tầm quan trọng của quan hệ với bên liên quan (người lao động, chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng bị ảnh hưởng…) để xây dựng doanh nghiệp bền vững, có trách nhiệm về tài chính. Việc này đặc biệt quan trọng với Doanh nghiệp Nhà nước được giao mục tiêu chính sách công. Do tính chất hoạt động, Doanh nghiệp Nhà nước có thể tác động lớn tới tình hình phát triển vĩ mô và cộng đồng nơi họ hoạt động. Hơn nữa, nhà đầu tư ngày càng chú ý tới các vấn đề về bên liên quan khi quyết định đầu tư, nhận thức về rủi ro kiện tụng. Vì vậy, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Doanh nghiệp Nhà nước cần công nhận ảnh hưởng tích cực của chính sách gắn kết bên liên quan với phát triển bền vững, khả năng chống chịu, mục tiêu chiến lược dài hạn và danh tiếng doanh nghiệp.
Doanh nghiệp Nhà nước nên báo cáo về vấn đề về bên liên quan, thể hiện cam kết minh bạch và hợp tác. Điều này sẽ góp phần xây dựng lòng tin, cải thiện danh tiếng. Việc báo cáo có thể gồm thông tin tiến độ gửi đến nhóm bị ảnh hưởng trực tiếp từ dự án, hoặc báo cáo kết quả hoạt động tương tác với bên liên quan. Thông tin có thể tích hợp trong báo cáo công ty hoặc dưới dạng tài liệu riêng.
Cụ thể:
VII.D.1. Chính phủ, cơ quan đại diện chủ sở hữu và Doanh nghiệp Nhà nước cần thừa nhận, tôn trọng quyền của bên liên quan được thiết lập theo pháp luật hoặc thông qua các thỏa thuận song phương. Trong trường hợp lợi ích của các bên liên quan được pháp luật bảo vệ, người lao động và các bên liên quan khác cần có cơ hội được giải quyết hiệu quả khi quyền lợi của họ bị vi phạm, với chi phí hợp lý và không bị trì hoãn quá mức.
Với vị thế là cổ đông chi phối, chính phủ có thể đưa ra các quyết định đối với doanh nghiệp theo hướng bất lợi cho các bên liên quan. Do đó, cần thiết lập các cơ chế, thủ tục nhằm bảo vệ quyền người lao động, cộng đồng bị ảnh hưởng và các bên liên quan khác. Cơ quan đại diện chủ sở hữu, Doanh nghiệp Nhà nước cần công nhận quyền lợi bên liên quan theo luật hoặc thỏa thuận chung, xây dựng chính sách rõ ràng.
Danh mục các bên liên quan có thể khác nhau tùy theo từng Doanh nghiệp Nhà nước, song thường bao gồm người lao động, chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng bị ảnh hưởng. Phần lớn quyền của họ được quy định trong pháp luật (về lao động, kinh doanh, môi trường, phá sản) hoặc hợp đồng. Để ra quyết định hiệu quả, doanh nghiệp, nếu phù hợp với quy định của pháp luật, nên cân nhắc các bên liên quan không có quan hệ hợp đồng với doanh nghiệp, vì có nguy cơ bỏ sót các vấn đề quan trọng khi xây dựng chính sách, mục tiêu, báo cáo phát triển bền vững.
Luật cần minh bạch, cho phép các bên liên quan lên tiếng, đòi bồi thường nếu quyền lợi bị xâm phạm, với chi phí hợp lý và không chậm trễ. Ngoài ra, người tố cáo hành vi sai phạm pháp lý (liên quan quy định xã hội, môi trường, tham nhũng, nhân quyền) của chính phủ hay Doanh nghiệp Nhà nước cần được pháp luật bảo vệ.
Một số quốc gia trao quyền cụ thể cho các bên liên quan thông qua quy chế pháp lý, quy định, thỏa thuận, hoặc cấu trúc quản trị riêng (ví dụ: đại diện người lao động trong Hội đồng Quản trị). Bất kỳ quyền đặc biệt nào cho bên liên quan hoặc tác động lên quy trình quyết định phải công khai. Dù quyền này được luật hay phương thức khác xác lập, đại hội đồng cổ đông và Hội đồng Quản trị vẫn giữ quyền quyết định. Để khuyến khích hợp tác năng động, tạo ra giá trị lâu dài cho các bên liên quan, cần bảo đảm họ (kể cả lao động, cộng đồng bị ảnh hưởng) được tiếp cận thông tin phù hợp, đáng tin cậy, được cập nhật kịp thời và thường xuyên. Điều này giúp họ thực thi hiệu quả các quyền của mình, bao gồm cả quyền được khắc phục khi lợi ích bị xâm phạm. Ngoài ra, người lao động cũng cần có khả năng phản ánh một cách trung thực và độc lập các hành vi trái pháp luật hoặc phi đạo đức đến Hội đồng Quản trị, mà không bị xâm phạm quyền lợi hay bị trả đũa dưới bất kỳ hình thức nào.
VII.D.2. Doanh nghiệp Nhà nước nên phát triển và khuyến khích tham gia tích cực của các bên liên quan trong quá trình hướng đến phát triển bền vững và bảo đảm quá trình chuyển đổi công bằng, đặc biệt đối với các cá nhân, nhóm có lợi ích hoặc chịu tác động từ hoạt động của doanh nghiệp.
Đối thoại thường xuyên, liên tục với các bên liên quan cần được lồng ghép vào quá trình ra quyết định quản lý và phản ánh trong chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp Nhà nước. Việc gắn kết với các bên liên quan một cách có ý nghĩa có thể hỗ trợ quá trình chuyển đổi công bằng (hướng tới kinh tế xanh một cách công bằng, toàn diện), đảm bảo quyền lợi và sinh kế của người lao động. Dù hữu ích trong nhiều vấn đề, điều này đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp mong muốn cải thiện phát triển bền vững và khả năng chống chịu – vốn có thể đòi hỏi đầu tư ngắn hạn, nhưng sẽ mang lại lợi ích dài hạn. Quá trình này cũng giúp doanh nghiệp đánh giá vấn đề bền vững nào thực sự quan trọng cần giải quyết, công bố.
Việc tổ chức đối thoại và gắn kết các bên liên quan cần được hỗ trợ bằng nền tảng pháp lý hoặc quy định phù hợp. “Gắn kết” thường bao gồm quá trình tương tác hai chiều, dựa trên thiện chí các bên và có sự phản hồi cụ thể từ doanh nghiệp đối với quan điểm của các bên liên quan (tức là có hành động tiếp theo sau đối thoại). Để bảo đảm việc gắn kết hiệu quả và an toàn, thông tin cần được cung cấp kịp thời, dễ tiếp cận và phù hợp với các bên liên quan; đồng thời cần loại bỏ các rào cản khiến những nhóm yếu thế có thể e ngại tham gia. Doanh nghiệp nên thiết lập các cơ chế cho phép báo cáo ẩn danh các hành vi sai phạm. Những hành vi bất hợp pháp hoặc phi đạo đức của cán bộ doanh nghiệp có thể xâm phạm quyền lợi của các bên liên quan và gây thiệt hại cho chính doanh nghiệp. Vì vậy, cần có chính sách bảo mật dành cho người tố cá, cùngm với quy trình tiếp nhận khiếu nại an toàn cho người lao. động hoặc đại diện của họ. Hội đồng Quản trị được khuyến khích chủ động bảo vệ người tố cáo, và bảo đảm họ có quyền tiếp cận một cách bảo mật với thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị – thường là thành viên Ủy ban Kiểm toán hoặc ủy ban đạo đức. Một số doanh nghiệp còn bổ nhiệm nhân sự chuyên trách để xử lý các khiếu nại. Một số cơ quan chức năng cũng cho phép thiết lập đường dây điện thoại hoặc địa chỉ email ẩn danh nhằm tiếp nhận tố giác. Ở một số quốc gia, tổ chức đại diện có thể thay mặt người lao động phản ánh các mối quan ngại; tuy nhiên, cá nhân người lao động vẫn cần được bảo vệ ngay cả khi họ tự mình lên tiếng. Nếu doanh nghiệp không khắc phục kịp thời hoặc người khiếu nại có cơ sở lo ngại rủi ro bị trả đũa, người lao động, bên liên quan có thể báo cáo thiện chí vi phạm pháp luật lên cơ quan hữu quan. Nhiều nước cho phép khởi ki.ệ.n liên quan việc thực thi Hướng dẫn của OECD về doanh nghiệp đa quốc gia về ứng xử kinh doanh có trách nhiệm tại Điểm liên hệ Quốc gia RBC tương ứng. Doanh nghiệp không được phân biệt đối xử hoặc kỷ luật các bên liên quan đã nêu khiếu nại.
VII.D.3. Cần cho phép phát triển cơ chế tham gia của người lao động. Khi người lao động hoặc bên liên quan khác tham gia vào quá trình quản trị công ty, họ cần có thông tin phù hợp, đáng tin, kịp thời, thường xuyên.
Mức độ tham gia của người lao động vào quản trị doanh nghiệp phụ thuộc vào luật pháp và thông lệ của từng quốc gia, và có thể khác nhau giữa các Doanh nghiệp Nhà nước. Các cơ chế tham gia này có thể mang lại lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho Doanh nghiệp Nhà nước, thông qua việc người lao động sẵn sàng đầu tư vào các kỹ năng đặc thù của doanh nghiệp.
Ví dụ về các hình thức tham gia gồm: đại diện người lao động trong Hội đồng Quản trị, tổ chức công đoàn, thỏa ước la.o động tập thể, hoặc hội đồng làm việc – nơi tiếp nhận và phản ánh quan điểm của người lao động. Các chuẩn mực quốc tế công nhận quyền của người lao động trong việc được thông tin, tham vấn và tham gia thương lượng. Ở những nơi mà pháp luật và thông lệ quản trị cho phép sự tham gia như vậy, cần bảo đảm người lao động và các bên liên quan có quyền tiếp cận thông tin cần thiết để thực hiện trách nhiệm của mình.
Ngoài ra, một số biện pháp có thể giúp nâng cao hiệu suất làm việc của người lao động như chương trình sở hữu cổ phần dành cho người lao động, hoặc cơ chế chia sẻ lợi nhuận. Cam kết về lương hưu cũng là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động–bao gồm cả người lao động hiện tại và đã nghỉ hưu.
VII.D.4. Cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và Doanh nghiệp Nhà nước cần hành động để duy trì chuẩn mực liêm chính cao ở khu vực Doanh nghiệp Nhà nước, tránh sử dụng Doanh nghiệp Nhà nước làm công cụ phục vụ tài trợ chính trị, bổ nhiệm theo quan hệ cá nhân hoặc trục lợi cá nhân.
Sở hữu nhà nước tập trung ở lĩnh vực rủi ro cao (công nghiệp khai khoáng, hạ tầng…), nơi khu vực công - tư giao nhau qua đặc quyền, dự án mua sắm lớn. Ở nhiều nền kinh tế, Doanh nghiệp Nhà nước vẫn cung cấp dịch vụ công yếu tố thiết yếu, đôi khi còn hoạt động như cơ quan công, dù có mục tiêu kinh tế, cạnh tranh trên thị trường. Sự đan xen này khiến Doanh nghiệp Nhà nước dễ tổn thương trước tham nhũng, lạm dụng tài trợ chính trị, bổ nhiệm thân hữu, trục lợi cá nhân. Việc này gây thiệt hại ngân sách, phân bổ nguồn lực sai, làm suy giảm lòng tin công chúng vào thể chế.
Chính phủ phải đề ra biện pháp cấm dùng Doanh nghiệp Nhà nước để tài trợ chính trị hay đóng góp vận động bầu cử, yêu cầu Doanh nghiệp Nhà nước tuân thủ quy định về vận động hành lang (ví dụ: đăng ký buổi họp trong sổ đăng ký phù hợp). Biện pháp cũng cần nhắm tới lĩnh vực rủi ro cao như mua sắm, thù lao cho Hội đồng Quản trị, lãnh đạo chủ chốt, xung đột lợi ích, hoạt động giải trí, đóng góp từ thiện và tài trợ, quà tặng, bổ nhiệm thân hữu, chi trả “bôi trơn”, yêu cầu – tống tiền.
Nhà nước và Doanh nghiệp Nhà nước nên thực hiện đầy đủ Hướng dẫn của OECD về chống tham nhũng và liêm chính trong Doanh nghiệp Nhà nước. Các quy tắc được đề cập trong cuốn sách này bổ sung cho văn kiện hiện hành.