Khung pháp lý, quy định và chính sách cho Doanh nghiệp Nhà nước cần đảm bảo một sân chơi bình đẳng và cạnh tranh công bằng khi Doanh nghiệp Nhà nước tham gia vào các hoạt động kinh tế.
Khi Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện hoạt động kinh tế, thường có sự đồng thuận rằng hoạt động này phải được tiến hành mà không có lợi thế hay bất lợi không chính đáng so với các Doanh nghiệp Nhà nước khác hoặc doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, vẫn còn ít sự đồng thuận về cách thức cụ thể để tạo ra một “sân chơi bình đẳng”, đặc biệt là khi Doanh nghiệp Nhà nước đảm đương các mục tiêu chính sách công quan trọng. Bên cạnh những thách thức cụ thể như đảm bảo tính trung lập về pháp lý, hành chính, thuế, nợ, quy định, còn có những vấn đề rộng hơn cần xem xét, chẳng hạn như việc định giá chi phí của các nghĩa vụ dịch vụ công và (khi khả thi) tách bạch hoạt động kinh tế khỏi hoạt động phi kinh tế. Tính trung lập cần được duy trì theo Khuyến nghị của OECD về trung lập cạnh tranh. Bên cạnh đó, khi Doanh nghiệp Nhà nước mở rộng hoạt động quốc tế, tham gia vào các thị trường và chuỗi giá trị, cần có các giải pháp bổ sung để ngăn ngừa và giảm thiểu sự méo mó thị trường, chẳng hạn như hành vi phân biệt đối xử của Doanh nghiệp Nhà nước.
III.A. Cần tách bạch rõ ràng giữa chức năng sở hữu của nhà nước và các chức năng khác của nhà nước có thể ảnh hưởng đến điều kiện thị trường đối với các Doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực điều tiết thị trường và hoạch định chính sách.
Khi nhà nước đồng thời làm nhà hoạch định chính sách, cơ quan điều tiết thị trường và chủ sở hữu của các Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, nhà nước vừa là “người chơi” chủ đạo vừa là “trọng tài”. Điều này có thể tạo ra xung đột lợi ích, bất lợi cho doanh nghiệp, nhà nước lẫn cộng đồng. Việc tách bạch đầy đủ, minh bạch trách nhiệm về chính sách, sở hữu và điều tiết thị trường là điều kiện cơ bản để xây dựng sân chơi bình đẳng cho Doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, và tránh méo mó cạnh tranh. Đây cũng là yêu cầu thiết yếu để ngăn chặn sự can thiệp quá mức từ phía nhà nước, và là một khuyến nghị then chốt trong Bộ hướng dẫn của OECD về phòng chống tham nhũng và tăng cường liêm chính trong Doanh nghiệp Nhà nước, cần được các quốc gia thành viên thực hiện đầy đủ. Theo đó, mọi cơ quan chính phủ có trách nhiệm ban hành chính sách, điều tiết thị trường hoặc lĩnh vực liên quan không nên đảm đương trách nhiệm sở hữu Doanh nghiệp Nhà nước thuộc lĩnh vực đó.
Trong trường hợp Doanh nghiệp Nhà nước được dùng làm phương tiện thực thi chính sách công cụ thể (ví dụ thúc đẩy phát triển bền vững, bình ổn vĩ mô hay tăng trưởng kinh tế), việc thiếu tách bạch giữa chức năng sở hữu và chức năng chính sách có thể gây nhầm lẫn mục tiêu và xung đột lợi ích giữa các bộ phận nhà nước. Tuy nhiên, tách bạch không có nghĩa ngăn cản sự phối hợp cần thiết giữa các cơ quan liên quan. Thay vào đó, nó giúp nhà nước được nhận diện rõ vai trò chủ sở hữu, minh bạch hóa quá trình xác định mục tiêu, giám sát hiệu quả và gắn kết chính sách, nhất là với vấn đề bền vững.
Ngoài ra, cần tách bạch rõ ràng, minh bạch giữa chức năng sở hữu với bất kỳ cơ quan nào của nhà nước có thể là khách hàng hoặc nhà cung cấp chính cho Doanh nghiệp Nhà nước. Các rào cản pháp lý hoặc phi pháp lý làm cản trở cạnh tranh mua sắm bình đẳng cần được loại bỏ. Khi triển khai tách bạch hiệu quả giữa các vai trò khác nhau của nhà nước đối với Doanh nghiệp Nhà nước, phải tính đến cả xung đột lợi ích trên thực tế lẫn xung đột có thể xảy ra.
III.B. Các bên liên quan và đối tượng quan tâm khác, bao gồm cả đối thủ cạnh tranh, cần có quyền tiếp cận các cơ chế khiếu nại hiệu quả thông qua các quy trình pháp lý, hòa giải hoặc trọng tài độc lập khi cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm. Hình thức pháp lý của Doanh nghiệp Nhà nước phải cho phép Doanh nghiệp Nhà nước tiến hành thủ tục phá sản và đảm bảo rằng chủ nợ có thể đòi quyền lợi của mình.
Doanh nghiệp Nhà nước cũng như chính phủ với vai trò cổ đông không được hưởng đặc quyền miễn truy tố trước tòa nếu bị cáo buộc vi phạm pháp luật hay nghĩa vụ hợp đồng. Các bên liên quan, bảo gồm cả đối thủ cạnh tranh... cần có quyền tiếp cận cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả và quyền khiếu nại Doanh nghiệp Nhà nước hoặc nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tại tòa, hoặc thông qua các phương thức giải quyết tranh chấp khác (trọng tài, hòa giải) nếu được thỏa thuận, họ phải được hệ thống tư pháp đối xử công bằng, bình đẳng, không nên lo sợ bị cơ quan nhà nước (với tư cách là chủ sở hữu) có động thái bất lợi. Ngoài ra, Doanh nghiệp Nhà nước nên chịu sự điều chỉnh tương đương đối với các quy định về phá sản, vỡ nợ như doanh nghiệp tư nhân tương tự.
III.C. Khi Doanh nghiệp Nhà nước đảm nhận nghĩa vụ dịch vụ công, cần được nhận diện minh bạch, cụ thể, cho phép phân bổ chính xác chi phí và doanh thu.
Trường hợp Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện nghĩa vụ dịch vụ công, việc công khai đầy đủ các nghĩa vụ, căn cứ, phạm vi và bù đắp/ưu đãi liên quan là rất quan trọng. Cần tách bạch về cấu trúc hoặc kế toán để xác định, tính toán và tài trợ nghĩa vụ dịch vụ công một cách chính xác, minh bạch.
Cụ thể:
III.C.1. Phải duy trì tiêu chuẩn cao về tính minh bạch và công bố thông tin liên quan đến chi phí, doanh thu.
Các nghĩa vụ dịch vụ công cần được xác định rõ ràng và công bố minh bạch. Lý tưởng nhất là áp dụng cơ chế tách bạch về kế toán, chức năng hoặc mô hình doanh nghiệp để ghi nhận riêng biệt các loại hình hoạt động khác nhau. Tuy vậy, cần lưu ý rằng tùy theo các yếu tố sản xuất của Doanh nghiệp Nhà nước (công nghệ, thiết bị, nhân lực), việc tách bạch cấu trúc có thể không khả thi, hoặc nếu có thể thì đôi khi lại không hiệu quả về kinh tế. Do đó, cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và chi phí của việc tách bạch về mặt cấu trúc với biện pháp hành vi.
Trong trường hợp các nghĩa vụ dịch vụ công tiếp tục được gộp chung với các hoạt động kinh tế, các yếu tố như chi phí, tài sản, nợ thường sẽ được chia sẻ. Để đảm bảo một sân chơi bình đẳng, cần có mức độ minh bạch cao và công bố cơ cấu chi phí. Điều này càng quan trọng khi Doanh nghiệp Nhà nước nhận trợ cấp hoặc các ưu đãi khác từ chính phủ. Phải tách bạch rõ ràng chi phí, tài sản giữa tài khoản cho nghĩa vụ dịch vụ công và (các) hoạt động kinh tế, tránh trợ cấp chéo bóp méo thị trường.
III.C.2. Các chi phí ròng phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ dịch vụ công cần được cấp kinh phí riêng biệt, theo nguyên tắc tương xứng và được công bố rõ ràng, bảo đảm việc bù đắp không bị sử dụng sai mục đích để trợ giá chéo.
Để giữ sân chơi bình đẳng, Doanh nghiệp Nhà nước phải được bù đắp đủ chi phí cho nhiệm vụ dịch vụ công, tránh tình trạng bù đắp quá mức – dẫn đến doanh nghiệp không hoạt động hiệu quả hoặc vô hình chung trợ cấp cho hoạt động cạnh tranh – hay bù đắp quá ít – khiến doanh nghiệp gặp khó khăn và bất lợi so với đối thủ tư nhân. Mọi khoản chi ròng liên quan đến nghĩa vụ dịch vụ công phải xác định rõ, công bố đầy đủ và bù đắp thỏa đáng theo cơ sở pháp lý và/hoặc cơ chế hợp đồng. Cách thức tài trợ cũng cần công khai. Phương thức bù đắp nên thiết kế để tránh méo mó thị trường, nhất là khi doanh nghiệp vừa làm dịch vụ công vừa hoạt động kinh tế. Trợ cấp này phải được định mức tương xứng với chi phí ròng khi làm dịch vụ công, không dùng bù cho hoạt động kinh tế khác hoặc bù đắp doanh nghiệp/tổ chức khác. Cần giám sát, đánh giá việc cấp và thực thi nghĩa vụ dịch vụ công trong hệ thống đánh giá hiệu quả chung, đồng thời rà soát định kỳ. Việc giám sát, kiểm soát độc lập bởi cơ quan nhà nước liên quan nên bảo đảm cách tính tài trợ dựa trên mục tiêu rõ ràng, tương xứng, minh bạch, và chi phí vận hành hiệu quả, kể cả chi phí vốn.
III.D. Theo nguyên tắc chung, không nên dùng Doanh nghiệp Nhà nước để trợ cấp hoặc tạo lợi thế cạnh tranh cho các hoạt động thương mại. Nếu Doanh nghiệp Nhà nước được giao thực hiện biện pháp hỗ trợ nhằm thực hiện mục tiêu chính sách công, cần đảm bảo: (i) Biện pháp hỗ trợ nhất quán với quy tắc cạnh tranh và thương mại; (ii) Được xác định, công bố rõ ràng; (iii) Không gây bất lợi không công bằng cho doanh nghiệp thương mại khác.
Trên nguyên tắc chung, Doanh nghiệp Nhà nước không nên được dùng như một công cụ để trợ cấp cho các hoạt động thương mại mà doanh nghiệp thực hiện, và cần bảo đảm bất kỳ biện pháp nào như vậy cũng phải minh bạch, phù hợp với các nghĩa vụ thương mại và cạnh tranh. Tuy nhiên, đôi lúc nghĩa vụ chính sách công có thể đòi hỏi Doanh nghiệp Nhà nước được cấp tài trợ, cho vay hoặc ưu đãi khác cho các hoạt động thương mại đảm nhận. Quyết định giao nhiệm vụ này cho Doanh nghiệp Nhà nước phải xem xét nguyên tắc ở Hướng dẫn I.A, tức hướng tới tối đa hóa giá trị lâu dài một cách hiệu quả, bền vững, và không được tạo bất lợi không công bằng, không có cơ sở pháp lý hoặc vượt quá mức cần thiết.
Ví dụ các “lợi thế” đáng quan ngại gồm: trợ cấp, khoản vay ưu đãi, bảo lãnh vay, đầu tư vốn… hay hỗ trợ dưới dạng hiện vật (giá bán dưới mức thị trường cho năng lượng, bất động sản, hạ tầng công nghệ thông tin, quyền tiếp cận dữ liệu...). Việc cấp hỗ trợ qua Doanh nghiệp Nhà nước cần tuân thủ quy định hiện hành. Nếu mục tiêu hỗ trợ công là để bảo đảm cung cấp hàng hóa/dịch vụ không khả thi kinh doanh, hoặc khu vực tư không sẵn sàng cung cấp, thường không phát sinh lo ngại về cạnh tranh. Trái lại, nếu can thiệp vào thị trường có cạnh tranh (thực tế hoặc tiềm năng), cần đánh giá tác động lên hiệu quả thị trường và chi phí kinh tế. Phù hợp với các điểm trên, bất kỳ trợ cấp hay ưu đãi nào gắn với việc đạt mục tiêu chính sách công cần được Doanh nghiệp Nhà nước liên quan công khai rõ ràng.
Cũng cần chú ý mọi biện pháp hỗ trợ phải tuân thủ luật, quy định và nghĩa vụ quốc tế. Việc cấp tài trợ, cho vay hoặc ưu đãi cho doanh nghiệp có thể xung đột với quy tắc thương mại – đầu tư quốc tế, gây hại đến tính trung lập cạnh tranh.
III.E. Nhà nước không nên miễn trừ cho Doanh nghiệp Nhà nước khỏi việc áp dụng và thực thi các quy định pháp luật, quy chuẩn và cơ chế dựa trên thị trường khi Doanh nghiệp Nhà nước tham gia các hoạt động kinh tế; đồng thời cần bảo đảm sự trung lập về thuế, nợ và quy định để tránh phân biệt đối xử không phù hợp giữa Doanh nghiệp Nhà nước và các đối thủ cạnh tranh.
Khi Doanh nghiệp Nhà nước có hoạt động kinh tế, cần tránh việc miễn trừ (trong luật lẫn thực tế) một số quy định đáng lẽ áp dụng cho công ty tư nhân (thuế, hành chính, cạnh tranh, phá sản, quy định xây dựng). Doanh nghiệp Nhà nước và đối thủ tư nhân nên được đối xử bình đằng, kể cả quyền “đối xử quốc gia” và quy tắc tiếp cận thị trường. Điều này gồm cả việc tuân thủ Tuyên bố OECD về đầu tư quốc tế và doanh nghiệp đa quốc gia [OECD/LEGAL/0001], Bộ quy tắc tự do hóa giao dịch vô hình hiện hành và Bộ quy tắc tự do hóa luồng vốn [OECD/LEGAL/0002], (nếu phù hợp).
Khi Doanh nghiệp Nhà nước hưởng lợi thế không chính đáng từ việc sở hữu nhà nước (như ưu đãi, tách biệt khỏi áp lực quy định, giới hạn ngân sách “mềm”, tiếp cận bảo lãnh chính phủ ngầm, hay khoản vay thấp hơn thị trường), họ có thể không phản ứng đúng mức với cơ chế thị trường (ví dụ giá carbon hay cơ chế mua bán phát thải). Tương tự, nếu không tuân thủ tiêu chuẩn về kinh doanh có trách nhiệm, Doanh nghiệp Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến cạnh tranh.
III.F. Hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước phải tuân thủ điều kiện thị trường, kể cả khi vay nợ hoặc huy động vốn chủ sở hữu.
Cần áp dụng biện pháp bảo đảm hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước (gồm mua bán hàng hóa, dịch vụ, tiếp cận – cấp phát – nhận tài chính dưới hình thức nợ hoặc vốn cổ phần) phản ánh điều kiện thị trường, dù khoản tài chính đó đến từ ngân sách nhà nước, Doanh nghiệp Nhà nước khác hay thị trường thương mại.
Cụ thể:
III.F.1. Mọi quan hệ kinh doanh của Doanh nghiệp Nhà nước, kể cả với tổ chức tài chính, phải thuần túy theo thương mại.
Trong một số trường hợp, chủ nợ có xu hướng cho rằng Doanh nghiệp Nhà nước được chính phủ ngầm bảo lãnh. Điều này dẫn đến việc Doanh nghiệp Nhà nước tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn hoặc với được vay với chi phí thấp một cách bất thường, từ đó làm méo mó môi trường cạnh tranh. Thêm vào đó, ở những nước mà tổ chức tài chính nhà nước hoặc nhà đầu tư tổ chức thuộc sở hữu nhà nước thường là chủ nợ chính của Doanh nghiệp Nhà nước đang tham gia hoạt động kinh tế, tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ xung đột lợi ích. Việc dựa vào tổ chức tài chính hoặc nhà đầu tư nhà nước có thể che chắn Doanh nghiệp Nhà nước khỏi áp lực và giám sát thị trường, làm sai lệch hệ thống khuyến khích, tạo ra tình trạng vay nợ quá mức, lãng phí nguồn lực và gây biến dạng thị trường.
Do đó, cần phân định rạch ròi trách nhiệm của chính phủ và của Doanh nghiệp Nhà nước đối với chủ nợ. Chính phủ cần thiết lập cơ chế quản lý xung đột lợi ích, đồng thời bảo đảm Doanh nghiệp Nhà nước hình thành mối quan hệ với ngân hàng nhà nước, các tổ chức tài chính hoặc nhà đầu tư tổ chức thuộc sở hữu nhà nước – cũng như với các Doanh nghiệp Nhà nước khác – dựa trên tiêu chí thuần túy thương mại. Các ngân hàng nhà nước phải áp dụng cùng một điều kiện và tiêu chuẩn cho cả Doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân khi cho vay. Cơ chế này cũng có thể áp dụng các giới hạn, đồng thời theo dõi chặt chẽ việc Thành viên Hội đồng Quản trị của Doanh nghiệp Nhà nước có mặt trong Hội đồng Quản trị của ngân hàng nhà nước.
Khi chính phủ cấp bảo lãnh cho Doanh nghiệp Nhà nước, về bản chất là để thay thế việc rót vốn chủ sở hữu, có thể phát sinh thêm nhiều vấn đề. Nguyên tắc chung là nhà nước không nên tự động bảo lãnh các khoản nợ của Doanh nghiệp Nhà nước. Cũng nên xây dựng thông lệ minh bạch về việc công bố cũng như định giá (hoặc chi phí) bảo lãnh, đồng thời khuyến khích Doanh nghiệp Nhà nước tìm nguồn vốn trên thị trường tài chính. Đối với chủ nợ thương mại – để xử lý vấn đề “bảo lãnh ngầm” – chính phủ cần làm rõ cho mọi bên tham gia thị trường biết việc mình không bảo lãnh các khoản nợ phát sinh của Doanh nghiệp Nhà nước, hoặc nếu cần, công khai bất kỳ biện pháp nào phải áp dụng trong tình huống khẩn cấp. Chính phủ cũng có thể cân nhắc giải pháp yêu cầu Doanh nghiệp Nhà nước nộp bổ sung một khoản vào ngân sách, nếu Doanh nghiệp Nhà nước được hưởng chi phí vay thấp hơn mức các doanh nghiệp tư phải chịu trong hoàn cảnh tương tự.
Quan hệ giữa Doanh nghiệp Nhà nước với các đối tác kinh doanh khác, kể cả Doanh nghiệp Nhà nước khác, cần tuân theo nguyên tắc độc lập và dựa trên cân nhắc thương mại; tuyệt đối không được xem đó là trợ cấp giá chéo cho Doanh nghiệp Nhà nước khác hoặc cho doanh nghiệp tư nhân.
III.F.2. Các hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước không được hưởng lợi hoặc cung cấp bất kỳ hình thức hỗ trợ tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp nào tạo ra lợi thế cạnh tranh so với doanh nghiệp tư nhân, chẳng hạn như tài chính ưu đãi (về nợ hoặc cổ phần), bảo lãnh, ưu đãi thuế hoặc ưu đãi tín dụng thương mại.
Để duy trì “sân chơi bình đẳng”, Doanh nghiệp Nhà nước phải chịu các quy tắc tài chính và thuế tương đương với các đối thủ tư nhân trong điều kiện tương tự. Không thể mặc định rằng Doanh nghiệp Nhà nước, do “gần chính phủ”, sẽ được phép nợ thuế kéo dài hay được xử lý thuế quá khoan dung.
Nhìn chung, Doanh nghiệp Nhà nước không nên có được các thỏa thuận tài chính “trái ngược thị trường” từ những Doanh nghiệp Nhà nước khác hoặc từ nhà nước (như tín dụng thương mại, góp vốn chủ sở hữu ở mức thấp hơn giá trị thị trường). Trừ phi các điều khoản đó hoàn toàn phù hợp với thông lệ doanh nghiệp bình thường, chúng sẽ trở thành hỗ trợ ưu đãi. Nhà nước cần có biện pháp để các giao dịch giữa Doanh nghiệp Nhà nước với nhau đều thực hiện dựa trên nguyên tắc thương mại. Nhà nước cũng cần chú ý quy trình quản lý sở hữu các tổ chức tài chính nhà nước, nhằm đảm bảo không tạo bất kỳ ưu thế nào thiếu phù hợp với điều kiện thị trường. Ví dụ: tổ chức tài chính nhà nước không nên cho vay hay cấp tín dụng dưới mức lãi suất thông thường. Tương tự, việc bơm vốn vào Doanh nghiệp Nhà nước từ quỹ đầu tư nhà nước không được thực hiện hay duy trì trong điều kiện phi thị trường. Thông tin hướng dẫn bổ sung về bảo lãnh ngầm hay công khai đã được nêu tại “Hướng dẫn III.F.1”.
Các biện pháp hỗ trợ đột xuất của nhà nước (như cho vay hoặc vốn chủ sở hữu dưới mức lãi suất thị trường) nếu thực hiện trong tình huống khẩn cấp hay khủng hoảng, phải đảm bảo nguyên tắc trung lập cạnh tranh, nghĩa là hỗ trợ khẩn cấp phải minh bạch, có mục tiêu, giới hạn thời gian, không làm méo mó cạnh tranh – thương mại, và phù hợp với các mục tiêu dài hạn. Nhà nước sở hữu cần tuân thủ thông lệ quốc tế tốt trong hỗ trợ khẩn cấp, đồng thời cân nhắc, đề xuất giải pháp ít gây méo mó cạnh tranh nhưng vẫn đạt được mục tiêu chính sách. Bất kỳ hỗ trợ đột xuất nào cũng phải đi kèm kế hoạch thoái lui minh bạch.
Cần bảo đảm trung lập cạnh tranh tuân theo Khuyến nghị của OECD về trung lập cạnh tranh.
III.F.3. Hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước không được nhận hoặc cung cấp đầu vào (như hàng hóa, năng lượng, nước, bất động sản, dữ liệu, đất đai, lao động) hoặc thỏa thuận (quyền sử dụng đất, nhượng quyền…) với giá hoặc điều kiện ưu ái hơn so với đối thủ tư nhân.
Doanh nghiệp Nhà nước không được nhận hay cung cấp các đầu vào như bất động sản, hàng hóa, dịch vụ, hạ tầng hay tài nguyên dữ liệu/internet với giá hoặc điều kiện tốt hơn so với doanh nghiệp tư cùng điều kiện, trừ phi đó là bù đắp cho nghĩa vụ dịch vụ công. Doanh nghiệp Nhà nước và công ty tư nhân nên đàm phán và tiếp cận quyền nhượng quyền trên cơ sở bình đẳng.
III.F.4. Hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước phải đạt tỉ suất lợi nhuận (RoR) bền vững, tương đương với kết quả của doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh trong điều kiện tương tự, xét trong dài hạn, ngoại trừ phần thực hiện nghĩa vụ dịch vụ công.
Doanh nghiệp Nhà nước tham gia hoạt động kinh tế được kỳ vọng đạt tỉ suất lợi nhuận tương đồng, về lâu dài, với doanh nghiệp tư nhân cạnh tranh trong điều kiện tương tự. Tuy nhiên, việc này không có nghĩa RoR của Doanh nghiệp Nhà nước phải giống hoàn toàn doanh nghiệp tư nhân.
RoR cần được cân nhắc theo chu kỳ dài, gắn với vòng đời sản phẩm, bởi cả trong khu vực tư nhân cạnh tranh gay gắt, RoR có thể dao động lớn trong ngắn hay trung hạn, và ngày càng nhiều doanh nghiệp tư cũng phải hạch toán các chi phí này theo yêu cầu bắt buộc hoặc tự nguyện. Bên cạnh đó, khi Doanh nghiệp Nhà nước tiến hành hoạt động kinh tế, mọi khoản vốn chủ sở hữu do ngân sách nhà nước đóng góp phải đi kèm yêu cầu RoR tối thiểu, tương ứng với doanh nghiệp tư trong hoàn cảnh tương tự. Một số chính phủ cho phép RoR thấp hơn khi bảng cân đối kế toán có nhu cầu đầu tư lớn trong ngắn hạn – điều này khá phổ biến ở nhiều doanh nghiệp khác, và nếu tính toán chặt chẽ thì không vi phạm nguyên tắc cạnh tranh công bằng. Ngược lại, một số chính phủ có thể giảm RoR để bù đắp những nghĩa vụ dịch vụ công mà Doanh nghiệp Nhà nước gánh; điều này chỉ nên thực hiện nếu việc giảm yêu cầu RoR liên quan trực tiếp đến việc thực thi nghĩa vụ dịch vụ công. Mục tiêu lợi nhuận cần phản ánh hồ sơ rủi ro và cơ cấu vốn của Doanh nghiệp Nhà nước, nhất quán với “Hướng dẫn I.A”.
III.G. Khi Doanh nghiệp Nhà nước tham gia mua sắm công, dù trong vai trò bên dự thầu hay bên mời thầu, quy trình phải công khai, cạnh tranh, dựa trên tiêu chí đánh giá minh bạch, khách quan, khuyến khích đa dạng nhà cung ứng, và phải được đảm bảo bởi các tiêu chuẩn phù hợp về liêm chính và minh bạch, nhằm bảo đảm Doanh nghiệp Nhà nước cùng nhà cung ứng hoặc đối thủ tiềm năng không hưởng hay gánh chịu lợi thế/bất lợi quá mức.
Việc Doanh nghiệp Nhà nước tham gia mua sắm công là mối quan tâm đặc biệt với các chính phủ cam kết đảm bảo “sân chơi bình đẳng”. Luật cần quy định cơ chế đấu thầu công bằng, rộng mở, minh bạch, phù hợp Khuyến nghị của OECD về mua sắm công [OECD/LEGAL/0411].
Ở mỗi nước, quy tắc này có thể chỉ áp dụng cho cơ quan chính phủ hoặc mở rộng sang Doanh nghiệp Nhà nước; dù dưới dạng nào, điều quan trọng là Doanh nghiệp Nhà nước phải minh bạch về quy định, khung mà họ áp dụng khi mua sắm. Doanh nghiệp Nhà nước, dù với tư cách bên dự thầu hay bên mời thầu, cần thực hiện thủ tục mua sắm công khai, cạnh tranh, dựa trên tiêu chí đánh giá khách quan, khuyến khích đa dạng nhà cung ứng, bảo đảm tính liêm chính.
Thường thì hoạt động Doanh nghiệp Nhà nước chia làm hai loại: hoạt động thương mại (bán, mua lại hàng hóa/dịch vụ) và hoạt động phục vụ mục tiêu chính phủ. Nếu một Doanh nghiệp Nhà nước đang thực hiện mục tiêu chính phủ (hoặc hoạt động nào đó cho phép Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện mục tiêu này), Doanh nghiệp Nhà nước nên áp dụng quy trình mua sắm công phù hợp thông lệ tốt. Các Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động dưới hình thức độc quyền cũng cần tuân thủ các quy tắc mua sắm áp dụng cho khu vực chính phủ nói chung. Khi đứng vai trò “bên mời thầu”, Doanh nghiệp Nhà nước nên ưu tiên hình thức đấu thầu mở, nhưng cũng có quyền linh hoạt chọn phương pháp mua sắm phù hợp đối với các hoạt động thương mại nếu họ cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp tư nhân để tránh bị thiệt thòi không cần thiết. Có thể khuyến khích áp dụng công nghệ số (e-procurement) nhằm nâng cao tính minh bạch và liêm chính.
III.H. Khi hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước ảnh hưởng đến thương mại, đầu tư hoặc cạnh tranh, Doanh nghiệp Nhà nước nên tiến hành mọi hoạt động kinh doanh,ngoài phần nghĩa vụ dịch vụ công, theo các cân nhắc thương mại, đồng thời tuân thủ nguyên tắc kinh doanh có trách nhiệm và tiêu chuẩn cao về liêm chính.
Phần này sẽ tập trung vào hành động và hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước trong bối cảnh kinh doanh. Ngày càng có nhiều hoạt động kinh tế của Doanh nghiệp Nhà nước ảnh hưởng hoặc có thể ảnh hưởng đến thương mại, đầu tư hoặc cạnh tranh. Do đó, chính phủ cần xem xét cẩn trọng các tác động của Doanh nghiệp Nhà nước đối với thương mại, đầu tư, cạnh tranh và tránh gây méo mó thị trường, đặc biệt là khi chủ sở hữu nhà nước tạo điều kiện ưu đãi cho Doanh nghiệp Nhà nước ở thị trường nội địa để họ giành lợi thế cạnh tranh tại thị trường quốc tế.
Vì Doanh nghiệp Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong nhiều nền kinh tế và hoạt động ở lĩnh vực cung cấp dịch vụ thiết yếu (giao thông, tiện ích, tài chính), việc Doanh nghiệp Nhà nước tập trung ở các lĩnh vực này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan cạnh tranh. Đầu tiên, can thiệp của nhà nước vào một số ngành, nhất là ngành công nghiệp, có tác động lớn ở chuỗi giá trị cả thượng nguồn lẫn hạ nguồn. Thứ hai, hầu hết các lĩnh vực này liên quan nhiều đến thương mại, đầu tư xuyên biên giới. Thứ ba, Doanh nghiệp Nhà nước trong ngành hạ tầng mạng thường vận hành chuỗi giá trị tích hợp theo chiều dọc, nắm độc quyền trong một số khâu, từ đó tác động đến điều kiện gia nhập của đối thủ tiềm năng ở nhiều hoạt động thương mại.
Đồng thời, cần phân biệt trường hợp nghĩa vụ dịch vụ công. Ngoại lệ so với quy tắc chung về cân nhắc thương mại là: khi Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện nghĩa vụ dịch vụ công, việc áp dụng tiêu chí thương mại không bắt buộc. Lúc đó, Doanh nghiệp Nhà nước không được phân biệt đối xử khi mua hàng, và chỉ được phép phân biệt khi bán ra nếu bắt buộc theo tính chất của nghĩa vụ dịch vụ công. Liên quan đến mua sắm công, xem thêm “Hướng dẫn III.G” và Khuyến nghị của OECD về mua sắm công. Mọi hoạt động kinh tế lẫn phi kinh tế nên tuân thủ các chuẩn mực OECD có liên quan đến liêm chính và hành vi kinh doanh có trách nhiệm.